Phép biện chứng duy tâm trong Triết học cổ điển Đức

Phép biện chứng duy tâm


   Biện chứng được bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là biểu hiện của các ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.
   Đỉnh cao của hình thức cơ bản này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là nhà triết học Kant (1724-1804) và người hoàn thiện là nhà triết học Hegel. 
    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng;
    Engels đã nói: “ Hình thức thứ hai của phép biện chứng , hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Kant đến Hegel ” .
    V.I Lenin cũng  nói rằng : “ Hegel đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiện tượng, của thế giới, của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm ” .

Hai nhà triết học lớn của nền triết học cổ điển Đức :

>  Immanuel Kant      


     Chủ nghĩa duy tâm của Kant được gọi là chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm.
     Immanuel Kant cho rằng khi ta nhận thức thế giới, tâm thức ta định hình thế giới theo không gian và thời gian, tất cả những gì ta có thể biết là các ấn tượng trí óc, hoặc các hiện tượng, mà thế giới bên ngoài (có thể tồn tại hoặc không tồn tại) tạo ra một cách độc lập trong tâm thức ta; tâm thức ta không bao giờ có thể nhận thức thế giới bên ngoài một cách trực tiếp.  Tâm thức không phải là một tấm bảng trống trơn mà nó được trang bị các phạm trù để sắp xếp tổ chức các ấn tượng giác quan.  
   Chủ nghĩa duy tâm này của Kant mở ra một thế giới của các trừu tượng hóa để cho lý tính khám phá, nhưng trái ngược với chủ nghĩa duy tâm Plato ở chỗ nó khẳng định sự không chắc chắn về một thế giới không thể biết được ở bên ngoài tâm thức của chính ta. Ta không thể tiếp cận vật tự thân nằm ngoài thế giới tâm thức của ta

> Georg Wilhelm Friedrich Hegel


   Hegel, một nhà triết học khác mà hệ thống của ông cũng được gọi là chủ nghĩa duy tâm, lập luận trong tác phẩm Khoa học Logic rằng các phẩm chất hữu hạn không "có thực" một cách đầy đủ, vì chúng phụ thuộc vào sự quyết định của các phẩm chất hữu hạn khác. 
   Mặt khác, "SỰ VÔ HẠN" định tính lại có thể tự quyết hơn, và do đó sẽ xứng đáng hơn để được gọi là "có thực" một cách đầy đủ.  Tương tự, những sự vật tự nhiên hữu hạn kém "thực" hơn - vì chúng kém tự quyết định hơn - so với những thứ thuộc về tinh thần như những người có đạo đức trách nhiệm, những cộng đồng luân lý, và Thượng đế. 
    Do đó, học thuyết nào khẳng định các phẩm chất hữu hạn hay các đối tượng tự nhiên là hoàn toàn có thực, chẳng hạn chủ nghĩa duy vật, học thuyết đó đã nhầm lẫn. Hegel gọi triết học của ông là chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối, để đối lập với "chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm" của Kant và Fichte. Khác với chủ nghĩa duy tâm của Hegel, các học thuyết này không dựa trên phê phán về sự hữu hạn.
     Các nhà "duy tâm chủ nghĩa" mà triết học của họ gần với triết học của Hegel nhất là Plato và Plotinus. Không có ai trong ba nhà tư tưởng này liên hệ chủ nghĩa duy tâm của họ với luận đề nhận thức luận rằng những gì ta biết là các "ý niệm" trong tâm thức của ta.

     Các nhà triết học này đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống. Triết học Hegel duy tâm ở chỗ phép biện chứng là cái được bắt đầu từ "ý niệm tuyệt đối", coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan. Theo ông, "ý niệm tuyệt đối" là điểm khởi đầu của tồn tại, tự "tha hóa" thành tự nhiên và trở về bản thân nó trong tồn tại tinh thần, "...tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm". 

֍ Phép biện chứng  của Hegel và Kant là hai điển hình  trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức.

Hẹn gặp lại các bạn ở các bài viết kế tiếp của mình và nhóm mình nhé. 

 ( Bài viết có sử dụng thông tin và hình ảnh từ Wikipedia, Pencil Art và các bài đăng của các thành viên nhóm ) .

Đăng nhận xét

0 Nhận xét