Quan niệm vật chất trong triết nhóm từ thời cổ đại tới cận đại - Bài làm nhóm


Ngay từ thời kỳ cổ đại, mặc dù những tài liệu khoa học về tự nhiên còn rất ít, tri thức khoa học chuyên ngành chưa ra đời, sự hiểu biết của con người về thế giới chủ yếu cũng dựa vào những tài liệu cảm tính, những quan sát trực tiếp, ngay từ khi đó các nhà triết học ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Hy Lạp cổ đại, trong khi giải thích thế giới đã nêu ra quan niệm của mình về vật chất. Nhũng quan niệm đó tuy còn thô sơ, mộc mạc, chủ yếu là những phỏng đoán thiên tài, nhưng cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển sau này của tư tưởng triết học về phạm trù vật chất. Căn cứ vào tài liệu lịch sử triết học, chúng ta trình bày một cách khái quát các quan điểm đó để có sự nhận xét, đánh giá thích hợp hơn. 

* Vào thời kỳ cổ đại

Hy Lạp nói riêng, ở phương Tây nói chung các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể nào đó của nó.
- Vào thời kỳ cổ đại ở phương đông quan niệm VẬT CHẤT thể hiện qua một số trường phái triết học Ân Độ và Trung hoa về thế giới. Ấn Độ có Trường phái LOKAYATA cho rằng tất cả được tạo ra bởi sự kết hợp trong 4 yếu tố Đất - Nước - Lửa - Khí. Những yếu tố này có khả năng tự tồn tạI, tự vận động trong không gian và cấu thành vạn vật.

Tính đa dạng của vạn vật chính là do sự kết hợp khác nhau của 4 yếu tố bản nguyên đó. Phái Nyaya và Vaisesia coi nguyên tử là thực thể của THẾ GIỚI. Trung Hoa có Thuyết Âm Dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật là tương tác của những thế lực đối lập nhau đó là âm và dương. Trong đó âm là phạm trù rất rộng phản ánh khái quát, phổ biến của vạn vật như là nhu, tối, ẩm, phía dưới, bên phải, số chẵn. Dương cũng là phạm trù rất rộng đối lập với âm. Phản ánh những thuộc tính như cương, sáng, khô, phía trên, số lẻ, bên trái. Hai thế lực này thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau tạo thành vũ trụ và vạn vật.Thuyết Ngũ hành của Trung quốc có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật để quy nó về yếu tố khởi nguyên với tính chất khác nhau.

Theo thuyết này có 5 nhân tố khởi nguyên là Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ.
   + Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, ở phía Tây

   + Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, ở phía Đông.

   + Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, ở phía Bắc.

   + Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, ở phía Nam.

   + Thổ tương trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa.

            Năm yếu tố này không tòn tại đọc lập, tuyệt đối mà tác động lẫn nhau theo nguyên tắc tương sinh, tương khắc với nhau tạo ra vạn vật. Những tư tưởng về âm, dương, ngũ, hành, tuy có nhưng hạn chế nhất định nhưng đó là triết lý đặc sắc mang tính duy vật và biện chứng nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ - ở phương tây, các nhà TH quy THẾ GIỚI vào 1 chỉnh thể thống nhất từ đó đi tìm bản nguyên VẬT CHẤT đầu tiên cấu tạo nên THẾ GIỚI đó, chẳng hạn người ta cho rằng vật chất là nước, không khí, lửa......Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là: Taket coi vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Hêraclit coi vật chất là lửa, Anximangdo coi vật chất là hạt praton, đây là một thực thể không xác định về chất. Đặc biệt đỉnh cao của quan niệm về vật chất của thời kỳ Hy Lạp cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmocrip. Theo thuyết này thì thực thể tạo nên thế giới là nguyên tử và nó là phần tử nhỏ bé nhất và không thể phân chia được, không thể xâm nhập và quan sát được, chỉ có thể nhận biết được bằng tư duy. Các nguyên tử không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình dạng. Sự kết hợp các nguyên tử khác nhau theo một trật tự khác nhau sẽ tạo nên vật thể khác nhau. Thuyết nguyên tử tồn tại đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bị khoa học đánh đổ và có hạn chế lịch sử nhất định. Tuy nhiên nó có ý nghĩa to lớn đối với sự định hướng cho sự phát triển khoa học nói chung đặc biệt là lĩnh vực vật lý sau này. Đồng thời nó có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh chống CNDT, thần học, tôn giáo........

* Vào Thời kỳ cận đại:

                Vào thế kỷ 17, thế kỷ 18 nền khoa học tự nhiên, thực nghiệm ở châu âu có sự phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là trên lĩnh vực vật lý học với phát minh của Niu Ton, phương pháp nghiên cứu ở trong vật lý đã xâm nhập ảnh hưởng rất lớn vào trong triết học. CNDV nói chung và phạm trù VẬT CHẤT nói riêng đã có những bước phát triển mới chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng.

- Côbecnich chứng minh mặt trời là trung tâm đã làm đảo lộn truyền thuyết của kinh thánh và quan điểm của thần học về thế giới.

- Quan điểm của Fanxitbaycơn: coi thế giới VẬT CHẤT tồn tại kquan, VẬT CHẤT là tổng hợp các hạt. Ông coi tự hiên là tổng hợp của những VẬT CHẤT có chất lượng luôn màu, muôn vẻ.
           - Quân điểm của Gatxăngdi: Phát triển học thuyết nguyên tử của thời cổ đại cho rằng THẾ GIỚI gồm những nguyên tử có tính tuyệt đối như tính kien cố và tính ko thể thông qua. TK 18 các nhà triết học Pháp đã phát triển phạm trù VẬT CHẤT lên một tầm cao mới. Đitơro cho rằng vũ trụ trong con người, trong mọi sự vật chỉ có 1 thực thể duy nhất là VẬT CHẤT. Sự xâm nhập ấy đã chi phối sự hiểu biết, nhận thức về vật chất, mọi hiện tượng tự nhiên đã được giải thích là được tác động qua lại giữa lực hút và lực đẩy, giữa các phần tử của vật chất, các phần tử ấy là bất biến. Sử thây đổi của nó chỉ là mặt vị trí, hình thể trong không gian. Mọi sự phân biệt về chất bị xem nhẹ và đều được quy giải chỉ sự khác nhau về lượng. Vì vậy, các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã đồng nhất vật chất với khối lượng và coi vận động của vật chất chỉ là vận động cơ học và nguyên nhân của sự vận động đó là do tác động từ bên ngoài. Vào thế kỷ 19, trong nền triết học Đức cổ điển là Phoi ơ Bách, ông chứng minh và khẳng định rằng thế giới này là vật chất và vật chất theo ông là toàn bộ thế giới tự nhiên. Nó không do ai sáng tạo ra mà nó tồn tại độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào bất cứ ý niệm, ý thức nào. Sự tồn tại của giới tự nhiên năm ngay trong lòng của giới tự nhiên. tuy nhiên Phoi ơ Bách lại không thấy đuợc mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, mối quan hệ giữa con người với xã hội, con người với giới tự nhiên. Ông đã không xác định đuợc vật chất trong lĩnh vực xã hội, cũng như hoạt động vật chất của con người là gì. Mặc dù vậy những quan niệm của ông về vật chất đã có ý nghĩa lịch sử lớn lao trong cuộc đấu tranh CNDT và tôn giáo, trong việc khôi phục những tư tưởng duy vật thành hệ thống. Và vì vậy, triết học duy vật của ông đã trở thành một trong nhưng tiền đề, nguồn gốc lý luận của Triết học duy vật Mác xít sau này.

 

* Quan niệm của Lênin về phạm trù vật chất


Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khoa học tự nhiên, nhất là vật lý học có bước phát triển mới, đã đi sâu vào nghiên cứu thế giới vi mô và đã phát hiện ra nhiều đặc tính mới của thế giới vật chất. Những đặc tính mới đó mâu thuẫn với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới vật chất. Những nhà triết học duy tâm chủ quan, tiêu biểu là Ma-khơ và A-vê-na-ri-út đã lợi dụng sự mâu thuẫn giữa những thành tựu mới của vật lý học hiện đại với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới để phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung, trong đó bao gồm cả chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Ma-khơ và A-vê-na-ri-út, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, Lênin đã kế thừa và phát triển hơn những quan điểm của Mác và Ăng ghen về vật chất. Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán, khi phê phán quan điểm duy tâm chủ quan của Ma-khơ và phái Ma-khơ ở Nga, lợi dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại để phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, Lênin đã nêu lên định nghĩa về phạm trù vật chất như sau: “Vật,chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”;. Cũng trong tác phẩm này, ở một chỗ khác Lênin còn viết: “Các khoa học tự nhiên khẳng định một cách tích cực rằng, trái đất đã từng tồn tại trong một trạng thái chưa có và cũng không thể có loài người hay bất cứ một sinh vật nào nói chung cả. Vật chất hữu cơ là một hiện tượng về sau mới có, là kết quả của một sự phát triển lâu dài. Như vậy tức là hồi bấy giờ, không có vật chất có năng lực cảm giác, không có cái Tôi nào. Vật chất là cái có trước; tư duy, ý thức, cảm giác đều là sản phẩm của một sự phát triển rất cao (của vật chất – DVT)”y. “Vật chất là cái tác động vào giác quan của chúng ta, thì gây ra cảm giác, vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm giác”. Lênin nhắc lại luận điểm của Ăng ghen: “Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần, nhưng tinh thần chỉ là sản phẩm cao cấp của vật chất mà thôi”.

Trong định nghĩa và những luận điểm giải thích thêm về vật chất trên đây của Lênin đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Ăng ghen về vật chất, điều đó thể hiện ở những nội dung sau:

Một là, định nghĩa chỉ rõ vật chất với tư cách là phạm trù triết học, là phạm trù rộng nhất, khái quát đặc tính chung của toàn bộ những sự vật, những quá trình diễn ra trong hiện thực khách quan; ở đây Lênin không đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của vật chất, hoặc với một thực thể, một bản nguyên đầu tiên nào đó là đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể, dù đó là những đối tượng vô cùng bé hoặc vô cùng lớn. Đối tượng vật chất cụ thể thì có giới hạn, có ra đời và mất đi, nhưng vật chất nói chung thì vô hạn và vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và không mất đi.

Hai là, vật chất có đặc tính chung là tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, không lệ thuộc vào ý thức. Đây là đặc tính chung, căn bản của vật chất để xác định đâu là vật chất, phân biệt vật chất với ý thức. Ý thức, cảm giác, tinh thần, tư duy chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não người, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người. Sự tồn tại của ý thức phải dựa trên cơ sở vật chất. Không có ý thức tồn tại thuần túy ngoài vật chất, độc lập với vật chất.

Ba là, vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của vật chất, không có “vật chất nói chung” tồn tại bên ngoài các dạng cụ thể của vật chất như một “thực thể” độc lập làm cơ sở cho mọi vật, hoặc là điểm khởi đầu của thế giới vật chất. Các vật trong thế giới không phải là sự kết hợp theo một cách thức nào đó “cái vật chất nói chung” “ban đầu” như các nhà duy vật trước Mác quan niệm, mà các vật chính là dạng cụ thể của vật chất. Con người nhận thức các dạng vật chất cụ thể chính là nhận thức các bộ phận của vật chất, từ đó con người sẽ có khả năng nhận thức được thế giới vật chất vô cùng vô tận một cách đầy đủ. Điều này khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người.

Bốn là, vật chất tồn tại thông qua vận động và tồn tại trong không gian và thời gian. Không có vật chất tồn tại mà không vận động, không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian, cũng không có vận động, không gian, thời gian thuần tuý ngoài vật chất. Vận động, không gian, thời gian là thuộc tính và hình thức tồn tại cố hữu của vật chất gắn liền với vật chất.

Năm là, vật chất là vô cùng vô tận, vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và cũng không mất đi. Ý thức, tư tưởng và tư duy của con người chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não của con người, là sự phản ánh ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn những thuộc tính của các dạng vật chất vào bộ não con người. Ý thức, tư duy của con người tự bản thân nó không làm thay đổi vật chất. Ý thức, tư duy của con người có thể tác động đến vật chất, làm biển đổi vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.

Như vậy quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất khác căn bản với quan niệm duy tâm và duy vật siêu hình về vật chất. Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất không đi tìm một điểm khởi đầu, một thực thể vật chất đầu tiên nào đó làm cơ sở cho mọi vật trong thế giới vật chất, không đồng nhất vật chất với vật thể. Quan điểm đó của triết học Mác – Lênin là phù hợp với những phát minh của khoa học tự nhiên hiện đại. Với sự phát triển của khoa học hiện đại và của thực tiễn xã hội, quan niệm của triết học Mác-Lênin về phạm trù vật chất càng được chứng thực. Chẳng hạn những phát minh của cơ học lượng tử, những nghiên cứu về đặc tính của các hạt cơ bản (tính chất sóng – hạt của Electron; các đại lượng đặc trưng cho trạng thái của nó như năng lượng, toạ độ, xung lượng, mômen xung lượng, không có trị số xác định được chi phối bởi hệ số bất định V.V.). So với cơ học cổ điển những tính chất của Electron trên đây do cơ học lượng tử phát hiện ra khác rất nhiều. Nếu không có quan điểm biện chứng và duy vật về thế giới, về vật chất sẽ dễ rơi vào giải thích các hiện tượng vật lý đó theo quan điểm duy tâm, nghĩa là cho rằng tính chất không xác định của thế giới vi mô là không có thật, chỉ do cảm nhận của con người quyết định. Theo quan điểm duy vật biện chứng về vật chất thì phải thừa nhận rằng những tính chất của thế giới vi mô là phương thức tồn tại của thế giới vật chất mà con người mới phát hiện ra. Phương thức tồn tại đó là vốn có của thế giới vật chất, là khách quan không do ý thức, cảm giác của con người quyết định. Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan niệm về tính chất vô cùng vô tận của thế giới vật chất của triết học Mác – Lênin. Đó chính là sự xác nhận nội dung khoa học thực sự của quan niệm về vật chất của triết học Mác – Lênin. Mặt khác quan niệm về vật chất của triết học Mác – Lênin không đồng nhất vật chất với vật thể, là cơ sở để xác định hình thức tồn tại của vật chất trong lĩnh vực xã hội, từ đó có cơ sở để xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử.


Hẹn gặp các bạn ở các bài viết kế tiếp của mình và nhóm mình nhé.

       ( Bài viết có sử dụng thông tin và hình ảnh từ Wikipedia, Google images và các bài đăng của các thành viên nhóm ).

Đăng nhận xét

1 Nhận xét